Một công ty cà phê ở Mỹ bán máy pha sát giá vốn, gần như không tính lãi. Họ sống bằng phần viên nén mà khách phải mua đều mỗi ngày. Một năm họ bán hơn một tỷ viên.
Bạn đang tìm hiểu mô hình máy pha cà phê miễn phí? Dùng cho quán, cho văn phòng hay cho một chuỗi điểm đặt đều được.
Bài này kể cách cỗ máy đó kiếm tiền, và cả những chỗ nó dễ sập. Mình kể để bạn có đủ số liệu mà tự quyết. Chuyện nhập máy thì để sau.
Tóm tắt nhanh
- Case gốc: một công ty cà phê ở thị trường Mỹ. Máy bán không lãi, tiền đến từ viên nén. Nguồn ghi họ lãi ròng hơn 1 tỷ nhân dân tệ một năm và bán hơn 1 tỷ viên.
- Cơ chế: đổi chỗ kiếm tiền, từ bán thiết bị một lần sang bán đồ tiêu hao lặp lại. Thêm một tầng nữa: thu 6 cent mỗi viên do hãng khác sản xuất.
- Vào Việt Nam: chưa chắc. Kênh đặt máy đã có. Nhưng cả ba điều kiện của case gốc đều thiếu hoặc chưa rõ: quy mô, hạ tầng, thói quen uống. Hướng hợp lý nhất là cho mượn máy kèm bán nguyên liệu, và chỉ nên thí điểm nhỏ trước.
- Rủi ro lớn nhất: khách tự mua viên nén bên ngoài. Khi đó bạn đã cho mượn máy mà không thu lại được gì.
Nói trước cho rõ
Bài này phân tích một case nước ngoài, không phải câu chuyện của Zhang Coffee. Case gốc lấy từ một tài liệu phân tích case study mà mình đang dùng. Bản thân tài liệu đó không nêu tên công ty.
Các con số ở mục 1 lấy nguyên từ nguồn, mình không kiểm chứng độc lập. Toàn bộ phần tính tiền ở mục 5 là giả định để minh hoạ cách tính, không lấy từ kết quả thật của ai.
Số liệu thật của thị trường Việt Nam trong bài gồm ba thứ.
Một là giá thuê máy của bảy đơn vị. Hai là giá mua máy hạt-sang-ly. Ba là mức tiêu thụ thật của một văn phòng nhỏ. Mình ghi nguồn và ngày xem ngay tại chỗ.
Case study cà phê viên nén: vì sao mô hình này thắng ở thị trường hộ gia đình Mỹ?
Ở Mỹ, cà phê là thứ uống mỗi sáng, giống như trà ở Việt Nam. Một công ty cà phê muốn chen vào thị trường đó nhưng không mở chuỗi cửa hàng.
Đối đầu trực diện với các ông lớn bán lẻ tại chỗ thì tốn tiền mà khó thắng. Họ đi đường vòng: bán máy pha cà phê kèm viên nén dùng một lần.
Cả ngành thường bán máy để ăn chênh lệch. Công ty này làm ngược lại.
Máy bán sát giá vốn, gần như không tính lãi. Tiền kiếm ở phần tiêu hao: viên nén mà khách phải mua đều đặn.
Nguồn cũng so cách làm này với Tetra Pak và với Nespresso của Nestlé. Cùng một kiểu: bán cái dùng một lần để nuôi cái dùng mãi.
Kết quả, theo dữ liệu của case gốc:
- Lợi nhuận ròng hơn 1 tỷ nhân dân tệ một năm.
- Bán hơn 1 tỷ viên nén mỗi năm, tức hơn 1 tỷ ly cà phê, nhiều hơn số ly Starbucks bán ra.
- Không tự sản xuất hết. Hãng khác làm viên nén tương thích cho máy của họ, và họ thu 6 cent mỗi viên.
- Một ly bán khoảng 0,5 đô, chừng một phần mười giá Starbucks.
Có một chi tiết dễ bị bỏ qua. Case gốc hướng vào hộ gia đình Mỹ.
Kênh văn phòng và chuỗi thì nguồn không nhắc tới. Chuyện đó quan trọng, vì khi bê mô hình sang Việt Nam, câu hỏi đầu tiên lại là chọn kênh nào.
Nguồn không nêu tên công ty. Cách mô tả khiến mình nhớ tới Keurig và K-Cup ở Mỹ.
Máy bán rẻ. Viên nén chỉ dùng được trên máy của họ. Nhưng họ vẫn mở cho bên thứ ba cùng làm.
Đó chỉ là liên tưởng của mình, nguồn không nói vậy.
Nhìn qua thì giống một câu chuyện thành công. Thứ đáng học nằm ở cơ chế phía sau.
Mô hình dao cạo và lưỡi lam (razor and blade) là gì? 5 bước vận hành thực tế
Mô hình này không mới. Chỗ đáng xem là cách case gốc đẩy nó xa hơn bản gốc một đoạn. Năm bước dưới đây bạn dùng được làm khung để soi bất kỳ ngành nào.
-
1
Chọn một thứ khách dùng hằng ngày
Cà phê là thói quen mỗi sáng, nên số ly tiêu thụ lặp lại mãi. Thiếu tính lặp lại thì mô hình sụp, vì bạn chỉ bán được một lần rồi hết.
-
2
Bán máy với lãi bằng không
Máy là cửa vào. Không tính lãi ở máy nên giá rẻ hơn chỗ khác, và họ thắng ngay ở vòng giành thị phần. Máy là khoản thu một lần. Dòng tiền lặp lại nằm ở viên nén.
-
3
Ăn tiền ở phần tiêu hao
Viên nén chỉ dùng được trên máy của họ. Máy nằm ngoài thị trường càng nhiều thì viên nén bán càng chạy. Giống chuyện bán máy in rẻ rồi sống bằng hộp mực.
-
4
Mở cửa cho hãng thứ ba làm viên nén
Tự làm đủ hương vị thì tốn nhà máy, tốn nghiên cứu, mà kho bãi cũng phình ra. Nên họ cho hãng khác sản xuất viên nén tương thích. Đổi lại, chiếc máy của họ có thêm nhiều lựa chọn cho người dùng.
-
5
Thu một khoản nhỏ trên mỗi viên của người khác
Mỗi viên do hãng khác bán ra, họ thu 6 cent. Kể cả sau này công ty ngừng tự sản xuất, khoản đó vẫn chảy về theo số ly bấm máy mỗi sáng.
Vì sao nó chạy được? Mô hình đổi đơn vị kiếm tiền: từ bán thiết bị một lần sang bán đồ tiêu hao lặp lại.
Lợi nhuận nằm ở tổng giá trị một khách mang lại trong suốt thời gian họ ở lại. Giao dịch đầu tiên chỉ là phần nhỏ.
Về phía khách, có ba chỗ được khai thác.
Máy rẻ hoặc miễn phí tạo cảm giác được lợi ngay, nên khách quyết nhanh hơn. Máy đã nằm trong nhà thì phải mua đúng loại viên nén, đổi sang loại khác tốn công nên khách ngại đi.
Và càng nhiều hãng làm viên nén cho chiếc máy đó, khách càng thấy mình có nhiều lựa chọn. Vì thế họ càng ít lý do bỏ.
Ba chỗ hay hiểu nhầm khi mới đọc mô hình này
- Máy phải cho không mới chạy. Case gốc không cho không. Họ bán máy sát giá vốn, không tính lãi. Cho mượn 0 đồng là biến thể ở Việt Nam, mình nói ở mục 5.
- Đặt được máy vào chỗ đông người là có tiền. Chỉ đúng khi chỗ đó có người bấm máy đều mỗi ngày. Máy nằm ở nơi ba ngày mới có người dùng thì vốn nằm im.
- Mở cho hãng khác làm viên nén là mất miếng ăn. Trong case gốc thì ngược lại: mở ra thành nguồn thu 6 cent mỗi viên, mà không phải nuôi nhà máy.
3 điều kiện thị trường để mô hình cà phê viên nén chạy được
Mô hình không có gì thần bí. Nó thắng nhờ ba điều kiện cụ thể, và thiếu một trong ba thì yếu đi thấy rõ.
Quy mô đủ lớn
Thị trường phải đủ rộng để bán hơn 1 tỷ viên một năm. Biên lãi mỗi viên mỏng, nên tổng dung lượng phải lớn mới gánh nổi số máy đã bán gần như không lãi.
Hạ tầng sản xuất linh hoạt
Phải có sẵn hệ sinh thái nhà máy làm viên nén tương thích, nhanh và rẻ. Thiếu chỗ này thì chuyện mở quyền cho bên thứ ba chỉ nằm trên giấy.
Thói quen tiêu dùng đổi nhanh
Người uống sẵn sàng chuyển sang thiết bị mới nếu tiện và rẻ hơn. Một ly khoảng 0,5 đô, chừng một phần mười giá Starbucks.
Bạn thử đối chiếu ba điều kiện này với chỗ mình đang sống. Với Việt Nam, mình lo nhất là quy mô và thói quen uống. Người Việt đã quen phin và cà phê rang xay, nên chuyển sang viên nén sẽ không xong trong một sớm một chiều.
Máy pha cà phê miễn phí ở Việt Nam: có đủ 3 điều kiện đó không?
Mình lập bảng để bạn tự chấm. Ba hàng trên cùng đúng là ba điều kiện ở mục 3.
Hai hàng cuối mình thêm vào, vì riêng Việt Nam có hai chuyện đó. Cột đánh giá là nhận định của mình, không có số liệu thống kê đi kèm, bạn có thể không đồng ý.
| Điều kiện | Ở case gốc | Ở Việt Nam | Đánh giá |
|---|---|---|---|
| Quy mô đủ lớn | Bán hơn 1 tỷ viên một năm | Thị trường nhỏ hơn nhiều. Mình chưa có số liệu về viên nén ở Việt Nam | Chưa rõ, nghiêng về thiếu |
| Hạ tầng làm viên nén tương thích | Có sẵn hệ sinh thái nhà máy, nhanh và rẻ | Chưa thấy phổ biến, phần lớn có vẻ phải nhập | Thiếu |
| Thói quen đổi sang thiết bị mới | Đổi nhanh nếu tiện và rẻ hơn | Cà phê phin và rang xay đã ăn sâu | Chưa rõ |
| Kênh để đặt máy (mình thêm) | Nguồn chỉ nói hướng vào hộ gia đình Mỹ | Có văn phòng, homestay, showroom, tiệm tóc | Đủ |
| Đã có người làm trước để học (mình thêm) | Chính là case gốc | Có đơn vị cho mượn máy 0 đồng và đơn vị cho thuê theo tháng (nguồn ở mục 5) | Đủ |
Ba điều kiện trên quyết định mô hình có chạy hay không, giá máy rẻ hay đắt chỉ là chuyện phụ. Kênh đặt máy thì Việt Nam không thiếu, và đã có người làm trước.
Câu hỏi còn lại là phần tiêu hao có giữ được không. Mục sau đi vào chuyện đó.
Có nên kinh doanh cà phê văn phòng (B2B) bằng máy pha cà phê miễn phí tại Việt Nam?
Ở Việt Nam chuyện này không còn lạ.
Laven Coffee cho máy 0 đồng nếu bạn mua từ 100 kg cà phê mỗi tháng. Delonghis thì miễn tiền máy khi mức tiêu thụ chạm 100 đến 120 kg. Phần lớn các đơn vị còn lại cho thuê theo tháng.
Kênh đã có sẵn, nên câu hỏi còn lại nằm ở phần tiêu hao.
Nhưng có một chỗ cần chỉnh khi bê từ case gốc sang. Viên nén tiện cho phòng họp nhỏ hoặc uống cá nhân. Với văn phòng 15 đến 30 người, thứ chạy được thường là máy pha tự động hạt sang ly (bean-to-cup).
Cơ chế giữ nguyên: bạn cho mượn thiết bị, phần tiêu hao là cà phê hạt giao định kỳ. Đây cũng là chỗ nối vào việc bên mình đang làm.
Khớp nối với Zhang Coffee
Zhang Coffee chưa có viên nén, chỉ bán cà phê rang xay dạng hạt hoặc bột. Nên nếu bạn thử hướng này, phần tiêu hao sẽ là cà phê rang xay bán theo kg.
Chỗ mình đứng được nằm ở đó. Hạt lấy từ Măng Đen, rang bằng máy Hot Air, chuẩn FDA Hoa Kỳ. Bảng giá sỉ thì công khai theo bậc để bạn xem trước khi quyết.
Bài toán điểm hòa vốn: chi phí đầu tư và lãi trên một máy
Bảng dưới là số mình dựng để minh hoạ, để bạn thấy cách tính.
| Hạng mục | Giá trị | Ghi chú |
|---|---|---|
| Giá nhập máy pha viên nén | 1.200.000đ / máy | giả định |
| Giá vốn một viên nén | 3.000đ | giả định |
| Giá bán một viên nén | 6.000đ | giả định |
| Lãi gộp mỗi ly | 3.000đ | 6.000 − 3.000, chưa trừ chi phí vận hành |
| Lượng tiêu thụ | 30 ly / ngày / máy | giả định, văn phòng 10 đến 15 người |
| Chi phí vận hành mỗi máy | 500.000đ / tháng | giả định: giao nguyên liệu, bảo trì, hao hụt |
Với một máy: 30 ly mỗi ngày, nhân 30 ngày là 900 ly. Lãi gộp phần tiêu hao là 900 nhân 3.000đ, tức 2.700.000đ một tháng. So với tiền máy 1.200.000đ thì chỉ khoảng 13 ngày là hoàn lại tiền máy.
Mười ba ngày nghe quá đẹp để tin. Nó chỉ đúng trong điều kiện lý tưởng: bán đủ 30 ly mỗi ngày, và mới tính lãi gộp.
Tiền giao viên nén, bảo trì, hao hụt, công đi lại chưa được trừ. Thêm nữa, không phải điểm đặt nào cũng đủ 30 ly. Bảng dưới cho thấy kết quả đổi thế nào khi lượng bán thấp hơn, và khi trừ thêm một khoản vận hành.
| Ly mỗi ngày | Lãi gộp mỗi tháng | Trừ vận hành 500.000đ/tháng | Hoàn tiền máy (1.200.000đ) |
|---|---|---|---|
| 5 | 450.000đ | −50.000đ | Không hoàn được |
| 10 | 900.000đ | 400.000đ | khoảng 3 tháng |
| 20 | 1.800.000đ | 1.300.000đ | khoảng 28 ngày |
| 30 | 2.700.000đ | 2.200.000đ | khoảng 16 ngày |
Nhìn bảng thì thấy ngay. Ở mức 5 ly mỗi ngày, lãi gộp không đủ trả chi phí vận hành. Tức là bạn đang nuôi máy.
Đây là chỗ dễ sai nhất khi mới làm, vì dễ mặc định điểm đặt nào cũng bán đủ 30 ly.
Nhân lên 10 máy thì vốn máy là 12.000.000đ.
Ở mức 30 ly mỗi ngày, lãi còn lại khoảng 22.000.000đ một tháng và vốn máy về trong chưa đầy ba tuần. Ở mức 10 ly, còn khoảng 4.000.000đ một tháng và mất ba tháng.
Lượng bán thật là biến quyết định, mình nói thêm ở mục 7.
Mốc để so: giá thuê máy pha cà phê ở Việt Nam
Mốc dưới đây lấy từ giá niêm yết thật của các đơn vị cho thuê máy tại Việt Nam, mình xem ngày 04/10/2026. Xếp từ thấp lên cao:
| Đơn vị | Loại máy | Giá thuê mỗi tháng |
|---|---|---|
| Deva Food | Máy tự động | 1.000.000đ đến 1.300.000đ |
| Laven Coffee | Máy 1 group | 1.500.000đ |
| Delonghis | Máy tự động espresso | 1.500.000đ |
| Siêu thị Máy Cà Phê | Melitta Avanza | 1.600.000đ |
| Delonghis | Máy tự động có vòi sữa | 2.200.000đ |
| Procaffe | Gaggia Magenta Plus | 2.246.000đ |
| Procaffe | Saeco Royal OTC | 3.257.000đ |
Dải chung của thị trường rơi vào khoảng 1.000.000đ đến 3.300.000đ một tháng. Delonghis còn có mức 900.000đ. Điều kiện là bạn mua đủ trên 8 kg mỗi tháng.
Đọc kỹ bảng này sẽ thấy một điều quan trọng. Tiền thuê thường đã gồm bảo trì, lắp đặt và bột vệ sinh. Nhưng nó không gồm cà phê.
Bạn phải mua cà phê của chính họ. Nhiều hợp đồng còn áp mức tối thiểu 10 đến 15 kg mỗi tháng.
Nói cách khác, họ không kiếm tiền từ tiền thuê máy. Họ kiếm từ nguyên liệu. Đó đúng là cơ chế mà case gốc đang nói tới.
Cho mượn miễn phí nghĩa là bạn bỏ qua khoản tiền thuê lẽ ra thu được. Lãi từ phần tiêu hao phải cao hơn khoản đó thì mới đáng làm.
Tính cả khoản vận hành 500.000đ mỗi tháng ở bảng trên, bạn cần bán khoảng 17 ly mỗi ngày. Mức đó mới đủ vượt mốc thuê thấp nhất 1.000.000đ.
Còn để vượt mốc 3.300.000đ thì cần khoảng 43 ly mỗi ngày. Mức này cao hơn cả giả định 30 ly ở trên.
Hai khoản 500.000đ này không liên quan nhau. Một là chi phí vận hành giả định. Một là giá thuê thấp nhất trên thị trường.
Nếu phần tiêu hao là cà phê rang xay bán theo kg
Với sản phẩm bên mình, phép tính đổi sang kg. Số ly trên một kg phụ thuộc vào lượng cà phê mỗi ly, mà mỗi cách pha một khác:
| Cà phê mỗi ly | Số ly trên 1 kg | Giá vốn mỗi ly |
|---|---|---|
| 8 g | 125 ly | 3.200đ |
| 12 g | 83 ly | 4.800đ |
| 15 g | 67 ly | 6.000đ |
| 20 g | 50 ly | 8.000đ |
Cách dùng: lấy số ly mỗi ngày của một điểm đặt. Nhân với giá vốn một ly ở dòng bạn chọn. Ra chi phí nguyên liệu mỗi ngày. Lấy giá bạn bán một ly trừ đi, ra lãi gộp.
Ví dụ một máy bán 30 ly mỗi ngày, pha 12 g mỗi ly. Chi phí nguyên liệu khoảng 144.000đ một ngày, tức khoảng 4.300.000đ một tháng. Bạn thay giá sỉ thật theo bậc ở trang bán sỉ vào là ra con số của mình.
Máy hạt-sang-ly: giá thật trên thị trường và bao lâu hoàn vốn
Phép tính ở trên dùng máy viên nén giả định 1.200.000đ để minh hoạ cơ chế. Máy hạt-sang-ly cho văn phòng là loại máy khác hẳn, nên mình tra giá thật rồi tính riêng.
Số dưới đây ghi ngày 04/10/2026. Mỗi mức lấy từ ít nhất ba nguồn. Phần lớn là giá khuyến mãi nên có thể đổi bất cứ lúc nào.
| Phân khúc | Model ví dụ | Giá |
|---|---|---|
| Phổ thông | Melitta Caffeo Solo, Philips Series 2200, De’Longhi Magnifica S bản cũ | 13 đến 16,5 triệu |
| Văn phòng | De’Longhi Magnifica S ECAM22.110, Melitta Avanza, De’Longhi Dinamica | 19 đến 36 triệu |
| Cao cấp | Kalerm K95LT, De’Longhi PrimaDonna Elite, Eletta Explore | 44 đến 85 triệu |
Máy cũ thì mình không tìm được giá niêm yết công khai ở đâu cả, nên không đưa số vào đây. Nhìn dải giá là thấy vấn đề ngay: máy hạt đắt gấp khoảng 16 lần máy viên nén giả định ở trên.
Cùng một cơ chế cho mượn máy miễn phí. Nhưng vốn bỏ ra ban đầu khác hẳn, nên thời gian hoàn vốn cũng khác hẳn.
| Giá máy | Lãi 1 triệu/tháng | Lãi 2 triệu/tháng | Lãi 3 triệu/tháng |
|---|---|---|---|
| 13 triệu | 13 tháng | 7 tháng | 5 tháng |
| 19 triệu | 19 tháng | 10 tháng | 7 tháng |
| 36 triệu | 36 tháng | 18 tháng | 12 tháng |
Đọc ngược bảng này cũng được: chọn mức lãi bạn tin là làm được, rồi xem nó kéo dài bao lâu.
Lãi 2 triệu một tháng là mức hợp lý cho một điểm đặt chạy tốt, khi đó máy 19 triệu mất khoảng 10 tháng. Nhưng nếu chỉ đạt 1 triệu một tháng thì gần hai năm, cộng thêm rủi ro máy hỏng và hợp đồng đứt giữa đường.
Và nhớ rằng 30 ly mỗi ngày là con số của một điểm chạy tốt.
Văn phòng 10 đến 15 người thực tế thường uống 10 đến 15 ly một ngày. Ở mức đó, lãi tụt còn khoảng một nửa và thời gian hoàn vốn dài gấp đôi.
Còn một biến thể bám sát case gốc.
Sau này có thể có bên thứ ba làm viên nén tương thích. Khi đó người đứng máy thu thêm một khoản nhỏ trên mỗi ly. Mức tham khảo là 500đ đến 1.000đ, theo tinh thần 6 cent mỗi viên của case gốc.
Mức này phải thương lượng, không có mức mặc định.
5 rủi ro lớn nhất khiến mô hình cho mượn máy pha cà phê dễ phá sản
Mô hình nào cũng có chỗ dễ vỡ. Bạn đọc kỹ phần này trước khi làm gì.
Rủi ro lớn nhất: mất kiểm soát phần tiêu hao
Nếu khách tự mua viên nén ở ngoài, hoặc mua hàng nhái tương thích, phần tiêu hao biến mất. Bạn đã cho mượn máy mà không thu lại được gì. Bốn rủi ro còn lại đều nhỏ hơn chỗ này.
- Quán nhỏ, chỉ bán tại chỗ. Quán 15m² không có kênh nào để đặt máy, và khách ngồi uống xong là về, không mang máy đi. Mô hình cần một nơi để cho mượn máy. Quầy bán tại chỗ không có nơi đó.
- Dòng tiền mỏng. Không đủ vốn nhập máy cho mượn thì bạn đang đổi tiền mặt hôm nay lấy dòng tiền tương lai. Sai một nhịp là kẹt.
- Phụ thuộc chuỗi cung ứng và bảo trì. Máy hỏng hoặc nguyên liệu khan hàng thì khách bỏ ngay. Chữ “miễn phí” chỉ có giá trị khi máy còn dùng được.
- Cạnh tranh làm mòn biên lãi. Nhiều bên cùng nhảy vào thì lãi mỗi ly mỏng đi, thời gian hoàn tiền máy dài ra. Case gốc cũng gặp chuyện này.
Về giấy tờ, mọi thỏa thuận cho mượn máy kèm thu cọc nên ghi rõ trong hợp đồng. Cần có ba điểm.
Một là ai sở hữu máy. Hai là điều kiện thu hồi nếu không đạt mức tiêu thụ tối thiểu. Ba là hỏng thì xử lý thế nào.
Đừng để chuyện này trên miệng.
Cách thử nghiệm mô hình (pilot run) trước khi nhập lô máy số lượng lớn
Có mấy thứ ngồi đoán không ra, phải thí điểm mới biết:
- Lượng tiêu thụ thật mỗi ngày. Giả định 30 ly có thể quá cao với một văn phòng nhỏ, mà con số đó quyết định cả phép tính ở mục 5.
- Người nhận máy có chịu ký cọc và ràng buộc mức tiêu thụ tối thiểu không. Có thể họ ngại giấy tờ, hoặc mặc định “của cho là của ôi”.
- Chi phí máy và nguyên liệu thật. Số trong bài là giả định, phải đi hỏi giá rồi đàm phán lại từ đầu.
- Độ bền thiết bị. Tỷ lệ kẹt máy, đóng cặn và chi phí bảo trì trên mỗi 1.000 ly là bao nhiêu.
- Chỗ đứng của viên nén giữa cà phê phin và cà phê rang xay. Đây là điều mình biết ít nhất.
Cách làm gọn nhất là thí điểm nhỏ trước. Ba đến năm máy ở một hai kênh.
Đo lượng tiêu thụ trong 30 ngày rồi mới tính chuyện mở rộng. Lệch nhiều so với giả định thì dừng, mất một khoản nhỏ tiền máy thay vì ôm cả lô hàng về kho.
Ai nên thử mô hình này, ai nên bỏ qua
Nên cân nhắc nếu bạn
- Đã có kênh để đặt máy: văn phòng, homestay, showroom, tiệm tóc.
- Kiểm soát được nguồn tiêu hao, tức khách mua hàng của bạn chứ không tự mua ngoài.
- Có sẵn vốn cho mượn vài máy trước khi khoản thu quay về.
Nên bỏ qua nếu bạn
- Có quán nhỏ chỉ bán tại chỗ, không có kênh nào để đặt máy.
- Dòng tiền mỏng, không đủ vốn cho mượn máy.
- Đang bán cà phê rang xay giá cao và không muốn pha loãng định vị.
- Ngại làm hợp đồng, giấy tờ cho chuyện cho mượn.
Hai cột này không cho biết bạn sẽ lãi bao nhiêu. Con số đó chỉ có sau lần thí điểm đầu tiên.
Câu hỏi thường gặp về máy pha cà phê miễn phí
Ở Việt Nam đã có ai cho mượn máy pha cà phê miễn phí chưa?
Có. Đã có đơn vị cho mượn máy với giá 0 đồng và đơn vị khác cho thuê máy theo tháng (nguồn ở mục 5). Kênh đã có sẵn, chuyện này có người làm trước rồi.
Cho thuê máy pha cà phê ở Việt Nam giá bao nhiêu?
Theo bảng giá niêm yết của một đơn vị cho thuê (nguồn ở mục 5), khoảng 500.000đ đến 3.500.000đ một tháng. Đây là giá của một đơn vị, chưa phải mức chung của thị trường. Bạn dùng nó làm mốc so với khoản bỏ qua khi cho mượn miễn phí.
Zhang Coffee có bán viên nén không?
Không. Bên mình bán cà phê rang xay, dạng hạt hoặc bột. Viên nén trong bài là ví dụ để hiểu cơ chế của case gốc.
Các con số trong bài có phải số thật của Zhang Coffee không?
Không. Số ở mục 1 là dữ liệu của case gốc. Phần minh hoạ cách tính ở mục 5 vẫn là số mình dựng. Còn giá thuê máy, giá mua máy hạt-sang-ly và mức tiêu thụ thì lấy từ thị trường thật. Mình ghi ngày xem tại chỗ.
Quán nhỏ chỉ bán tại chỗ có làm được không?
Không phù hợp. Mô hình cần một kênh để đặt máy cho mượn, như văn phòng, homestay hay tiệm tóc. Quán chỉ có chỗ cho khách ngồi thì không có nơi đặt máy.
Bao lâu thì biết mô hình có chạy hay không?
Khoảng 30 ngày với ba đến năm máy ở một hai kênh. Đo lượng tiêu thụ thật mỗi ngày rồi so với con số bạn giả định. Lệch nhiều thì dừng, đừng cố mở rộng.
Đọc thêm
- Kinh doanh cà phê: thư viện mô hình cho quán. Vì sao quán đông khách mà vẫn hết tiền mặt nhập hàng.
- Bán sỉ cà phê rang xay: nguồn Măng Đen, chuẩn FDA Hoa Kỳ. Điều kiện làm việc với quán, đại lý và cộng tác viên.
- Checklist 30 điểm chẩn đoán quán cà phê: tự chấm xem quán đang tắc ở đâu trước khi tính chuyện đổi nguồn hàng.
- Đăng ký tư vấn Đồng Hành: để lại số điện thoại, bên mình cùng bạn tính xem có đáng thử không.
Muốn thử thì thử nhỏ trước
Đọc xong thì đừng vội đi nhập máy.
Cho mình biết bạn đang nhắm kênh nào, văn phòng, homestay hay showroom, và quy mô nhân sự ở đó. Mình cùng bạn tính điểm hòa vốn theo từng mức tiêu thụ, để biết con số nào cần đo trong lần thí điểm đầu.
Gọi trực tiếp 0909 288 848 ·
Email tuvan@zhangcoffee.com
819 Hương Lộ 2, P. Bình Trị Đông A, Q. Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh
